Chất lượng việc làm lại là vấn đề báo động
Trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp, đơn vị kinh dinh phi chính thức có được môi trường kinh doanh thuận tiện hơn để thúc đẩy việc làm bền vững và tạo điều kiện cho doanh nghiệp và lao động chuyển đổi sang khu vực kinh tế chính thức cũng còn nhiều lỗ hổng. Bảo hiểm thất nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc giải quyết chính sách khi kết thúc quan hệ lao động, chưa có các chính sách thúc đẩy doanh nghiệp duy trì việc làm tốt, hỗ trợ người cần lao trong các doanh nghiệp khi gặp các khó khăn đặc biệt (suy giảm kinh tế, tái cơ cấu DN trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế…).
Theo mức tăng trưởng dân số, dự kiến đến năm 2020, trung bình mỗi năm nước ta có thêm 700. Không kể cần lao nông nghiệp (chiếm hơn 47% tổng việc làm), việc làm không chính thức đang tăng lên, từ gần 36% năm 2011 lên gần 37% vào năm 2012 và chưa có dấu hiệu đảo chiều khi số doanh nghiệp “chết” hoặc sống dặt dẹo nhiều. Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp không cao (chỉ 2%) nhưng thất nghiệp trá hình - thiếu việc làm, làm việc không đúng chuyên môn, lại rất lớn mà chưa được nhận mặt.
Ẩn số Sau 1 năm tiếp cận và thực hiện chương trình về việc làm bền vững (thời đoạn 2012-2016), đến nay công tác quản lý, các chỉ tiêu, thông tin về lao động việc làm vẫn lạc lõng, lỗi với thực tại. Hơn 77% cần lao làm việc trong khu vực kinh tế cá thể, trừ hộ gia đình làm nông nghiệp, còn lại cốt là buôn thúng bán bưng, xe ôm… cho thu nhập thấp, công việc bấp bênh, điều kiện cần lao không đảm bảo.
000 cần lao, gây áp lực về việc làm và tạo việc làm cho người cần lao. Thu nhập và năng suất cần lao rất thấp, chỉ bằng 30% - 50% so với các nước trong khu vực.
Vấn đề cải thiện điều kiện lao động, năng suất và tính cạnh tranh của các DN cũng chưa được đánh giá. Theo Bộ LĐTB-XH, tháng 9-2012, Thủ tướng Chính phủ đã có kế hoạch phát triển DN vừa và nhỏ song đến nay, các tỉnh, thành, quận, huyện và các ban ngành liên tưởng lại chưa có đánh giá về việc cải thiện môi trường kinh dinh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các HTX và các cơ sở kinh doanh phi chính thức.
Vấn đề nhức nhói chưa có lời giải thỏa đáng là lương tối thiểu đến nay vẫn chỉ đáp ứng khoảng 60% mức sống tối thiểu của người cần lao. Người chuyển dịch từ nông thôn ra TP chưa được tương trợ; khu vực lao động không chính thức gần như không được tương trợ hội nhập thị trường lao động… Còn nhiều.
Theo PGS-TS Nguyễn Bá Ngọc, trong khi doanh nghiệp “chết” hàng loạt nhưng cơ quan quản lý lại không nắm rõ bao nhiêu người mất việc do doanh nghiệp giải thể, hoạt động cầm chừng; không biết có bao lăm người chuyển dịch từ khu vực chính thức sang làm việc không chính thức, bấp bênh; nhận định sút giảm lương lậu ở một số ngành nghề chỉ là con số chung chung chứ chưa phân tách cặn kẽ nguyên cớ do đâu; nhu cầu lao động của các ngành nghề ưu tiên, số việc làm trống ở một số ngành không có, cứ cần đến đâu tuyển đến đó… Thậm chí, ngay cả số liệu người tìm được việc làm qua hệ thống trọng điểm giới thiệu việc làm cũng chưa có.
Ảnh: VIỆT DŨNG Báo động chất lượng nhân công Việc làm bền vững là khái niệm mới được đưa ra trong thời gian gần đây. Nguyễn Bá Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Khoa học cần lao và từng lớp (Bộ LĐTB-XH) đánh giá.
Người cần lao cần việc làm ổn định. “Tuy hồ hết mọi người đều làm việc nhưng không phải ai cũng có việc làm vững bền”, thạc sĩ Nguyễn Hoàng Hà, Văn phòng Tổ chức cần lao quốc tế (ILO) tại Việt Nam, nhận xét.
ĐƯỜNG LOAN. Khía cạnh bền vững của việc làm bền vững là mục đích không chỉ tạo ra công ăn việc làm, mà việc làm phải đạt chuẩn có thể hài lòng; số lượng việc làm chẳng thể tách rời chất lượng công việc – được trả lương cao hơn, môi trường làm việc an toàn hơn… Ở nước ta, tỷ lệ thất nghiệp chỉ 2%, bởi đặc thù riêng của Việt Nam so với các nước khác là… ai cũng phải day trở làm bất cứ việc gì để mưu sinh.
Trong khi đó, độ đậy của BHXH mới đạt khoảng 20% tổng số cần lao. “Các chỉ tiêu và thông báo về lao động việc làm chưa đề đạt những vấn đề “nóng” của nền kinh tế”, PGS-TS. Một thách thức không nhỏ nữa về chất lượng nguồn nhân lực, khi hiện tại 58% cần lao không có chuyên môn kỹ thuật. Hơn 65% cần lao đang làm việc trong nền kinh tế không có quan hệ lao động (ưng chuẩn hợp đồng cần lao).
Cảnh ngộ ấy lại đặt thêm sức nặng cho bài toán an sinh từng lớp bởi người cần lao phải vắt kiệt sức mưu sinh, không có tích lũy cho mai sau. Người cần lao làm nhiều năm nhưng chỉ bằng sức lực, kinh nghiệm chứ chưa chú trọng làm việc bằng kỹ năng vốn có được qua đào tạo bài bản.
Nhiều người lao động phải làm việc trong điều kiện công việc nặng nề, với sản lượng và thu nhập thấp, bấp bênh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét