Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

Tin ở Hua Lạnh

Kỳ I: Một ngày cùng Hua Lạnh

Cheo leo Hua Lạnh

Hua Lạnh là một bản biên thuỳ lọt thỏm trong rừng sâu phía Tây Bắc Sơn La, vốn là một cụm dân cư tôn giáo toàn tòng nằm ép giữa hai dãy núi Phá Thuông và Hứa Pun, xã Nậm Lạnh, Sốp Cộp. Nếu chúng tôi không phải là phóng viên của báo Biên phòng thì khó có thể tới đây, ở lại trong bản, cùng ăn, cùng ở với bà con, thêm nữa lại có thể tham gia vào những buổi nguyện cầu thiêng thường nhật của họ ở nhà thờ ngay trong bản. Con đường rừng từ trung tâm xã Nậm Lạnh đến đây quá xa xăm, lại đi dần lên cao, nằm hiểm trở trên các triền núi. Hơn 30 cây số hành trình vắng tanh không một nóc nhà, đi miết rồi mới nhìn thấy Hua Lạnh chênh vênh bên sườn một dốc núi chông chênh. Bản Hua Lạnh nằm giữa sống núi đó, khí lạnh và sương mù phủ quanh năm vào buổi tối và sáng sớm. Chỉ vào buổi trưa, ánh nắng cường độ mạnh mới có thể lọt qua những lớp mây, bản làng rực lên một tẹo rồi thôi.


Một buổi cầu kinh tối ở Hua Lạnh.

Một vị cán bộ xã Nậm Lạnh cho chúng tôi biết vào chiều hôm trước rằng, chuyện người Mông theo đạo Tin lành thường thích sống ở những bản làng tách biệt với cuộc sống bên ngoài để có thể sinh hoạt đạo tự do, chính là trường hợp của bản Hua Lạnh. Nơi này như một ốc đảo không sóng điện thoại, không điện lưới, không sách báo, tivi, không chợ... Chẳng thể đếm hết những cái không ở đây.

Vị cán bộ xã tiết lộ thêm, cho đến bây giờ, Hua Lạnh tồn tại một luật bất thành văn là nếu gia đình nào, cá nhân chủ nghĩa nào muốn nhập cư vào bản Hua Lạnh đều phải theo đạo. Điều này do nhóm truyền giáo và mục sư tự phong của bản quy định, thế mà ai nấy đều chấp hành. Trong một tài liệu điều tra của UBND xã Nậm Lạnh ghi rõ: Hua Lạnh hiện có 56 hộ dân (439 khẩu) thuộc 6 dòng tộc người Mông di trú từ Điện Biên và Thuận Châu (Sơn La) đến đây từ năm 1990 đến 2003. Điều đáng nói là hiện có 2 hộ dân theo đạo "hồi âm đời đời" - cho đến nay vẫn chưa được thế giới coi là chính đạo. 54 hộ dân còn lại theo đạo Tin lành do nhóm đạo liên hữu Cơ đốc giáo miền Nam truyền tới và được quản lý bởi một mục sư tự phong là Sùng A Lầu, sinh năm 1984. Vớ các buổi hành lễ tại nhà thờ, các buổi truyền giáo ở Hua Lạnh đều do mục sư này điều hành.

Im lặng trên núi

Chiều xuống, Hua Lạnh lạnh tái tê. Chúng tôi ăn vội bữa cơm chiều ở tổ công tác biên phòng rồi đến nhà thờ. Rất nhiều bà con đã tụ họp trong giáo đường. Ngôi nhà thờ này ngoài cây loan giá cắm trên nóc đã nghiêng vẹo thì nó giống hệt các ngôi nhà ở khác của người Mông. Điều này biểu thị sự bản địa hóa tối đa có chủ tâm để mang lại sự gần gũi thân thiện của những người điều hành nhóm đạo. Bên trong là hai hàng ghế băng đông nghẹt người, vẻ mặt ai cũng đờ đẫn trong bóng tối nhờ nhờ. Có những nữ giới lặng phắc lắng tai người thuyết lí đang nói.

Họ không gây ồn ào và rất ít giao du với nhau, nên nghe đâu không ai để ý đến sự có mặt của chúng tôi trong giáo đường của họ. Ánh sáng bên trong rất yếu ớt phát ra từ hai ngọn đèn nê-ông nhỏ phía trên, nơi có đặt bục thuyết trình dành cho người chủ trì buổi lễ. Tiếng thuyết giảng và đọc kinh nguyện cầu bằng tiếng Mông phát qua chiếc loa gắn trên tường gỗ nghe rõ mồn một trong đêm tối. Cán bộ Biên phòng người Mông đi cùng dịch cho chúng tôi nghe lời thuyết giảng. Vẫn những giáo lý thường thấy kêu gọi niềm tin vào Chúa, vào thiên đàng. Các giáo dân Hua Lạnh Lặng im, vẻ mặt không diễn đạt cảm xúc.

Chỉ khi đến màn hát thánh ca, những hàng ghế mới chợt nhúc nhích. Họ hát say sưa những bài thánh ca bằng tiếng Mông phiên âm La-tinh có đệm đàn organ theo lời bắt nhịp của mục sư. Ai nấy vẻ mặt giãn dần ra sau những găng và mệt mỏi của một ngày. Họ ra về dường như đã trút được tâm tình sau khi hát vang những bài hát thánh ca.

Chúng tôi nán lại bên trong nhà thờ để chuyện trò với đội hát thánh ca đang ở lại tập hát. Có 4 đàn bà còn rất trẻ bế những đứa bé quấn kỹ trong chăn ngồi lại ở hàng ghế đầu. Trên tay họ là lời những bài hát thánh ca bằng tiếng Mông phiên âm La-tinh. Đây là đội hát thánh ca của Hua Lạnh. Cứ mỗi tháng họ lại học những bài hát thánh ca mới để hát vào những buổi lễ. Những thiếu phụ Mông chỉ độ tìm kiếm 20 tuổi, nhưng họ chừng như mất hẳn vẻ thanh xuân vì sinh nhiều con, sống biệt lập và ít giao thiệp với bên ngoài.

Trên bức tường gỗ trong nhà thờ có treo những bức tranh vẽ mô phỏng cuộc sống sau cái chết ở trên thiên đường theo thuyết giảng của nhóm đạo này. Bức vẽ hình một vùng đất có nhà lầu xe hơi treo lửng lơ trên không trung, những đoàn người từ tha ma đạo rồng rắn nhau lên thẳng vùng đất thiên đường. Những ai không có đạo thì xuống địa ngục. Không biết có bao lăm người ở Hua Lạnh tin vào những bức vẽ ngu ngơ này để an nhiên với cuộc sống thực tại đói nghèo, mù thông tin. Do không nói tiếng phổ biến nên giao dịch giữa chúng tôi và họ phải ưng chuẩn thông dịch từ cán bộ Biên phòng cắm bản.

Những câu trả lời bao giờ cũng dè dặt, e sợ. Khi chúng tôi ra về, tiếng hát thánh ca vẫn còn dập dìu trong đêm. Kinh ngạc hơn nữa là tiếng hát đó không chỉ vang lên ở nhà thờ. Khi ngang qua một ngôi nhà cuối bản, chúng tôi ngỡ ngàng khi thấy một thiếu nữ Mông ngồi trong nhà đang hát thánh ca một mình. Cô gái hát và cầm điện thoại để thu thanh lại tiếng hát của mình. Tay kia cầm cuốn sổ tay có chép lời bài hát. Bên trong ngôi nhà nhan nhản những bó bông chít mà chủ nhân vừa đi rừng mang về hồi chiều. Đây là những thứ mang lại thu nhập chính cho gia đình đông nhân khẩu này. Chúng tôi hỏi bà chủ nhà, mẹ của cô gái đứng ở cửa: "Con gái bác đang hát phải không?". Bà chủ Mùa Thị Gênh bảo, con gái bà ngày nào cũng thắp đèn học hát thánh ca như vậy, ban ngày thì đi rừng hái bông chít về bán.


Những đàn bà ở Hua Lạnh đang tập hát thánh ca.

Một tiếng buổi tối của mỗi ngày, khi tắt nắng, tiếng hát thánh ca nghe đâu đã làm Hua Lạnh sống lại. Tất thảy như hòa âm làm một, bản làng khác hẳn với những im lặng đáng sợ của cả một ngày. Tôi chợt nhớ câu nói của một danh nhân: "Khi con người ta cất tiếng hát, tôi tin rằng họ đang sống". Tiếng chó sủa, trẻ khóc, người lớn nói lao xao bây giờ mới nghe rõ. Tuốt tuột những nếp sinh hoạt đó là do cuộc sống thu hẹp trước thời cục, trong khi đó lại sùng tín cực đoan vào đạo mang lại.

Và sáng hôm sau, cuộc trò chuyện với Trưởng thôn Vừ Gạ Sênh đã làm những băn khoăn của tôi vụt trở thành rất rõ ràng. Nếu biết trước được thông báo ông Sênh cho hay rằng, Hua Lạnh vẫn ngay bị sói hoang và thú rừng khuấy rối vào ban đêm, hẳn chúng tôi đã không dám qua lại trong bản cả buổi tối như thế.

Kỳ II: Đi tìm niềm tin

Trương Thúy Hằng

Email Print Góp ý


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét