Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

khá là hot Không gian của tiếp nhận.

Thậm chí, hình thức “phản ngữ” để cất tiếng trào lộng cũng phần nào lép vế hơn so với các hình thức dùng ngôn ngữ giễu nhại kết hợp với hình tượng nghệ thuật kệch cỡm, lố lỉnh để tạo hiệu ứng đả kích sâu cay. Mrożek là người bắt bệnh cho tầng lớp Ba Lan hiện đại, ông tin vào sự phản biện, vào sự độc lập trong nghĩ suy.

Năm 1990, một bản dịch  Con voi  từ nguyên bản tiếng Ba Lan của dịch giả Nguyễn Hữu Dũng cũng được ban bố tại Nhà xuất bản Tác phẩm mới. Qua thời Nguyễn Hữu Dũng, thể loại được nhấn mạnh ở khía cạnh nội dung, khi được thêm định ngữ để trở thành “truyện châm biếm”. Bên cạnh tiếng cười trào lộng, có một bộ phận đáng kể những truyện của Mrożek được viết theo một bút pháp khác.

Nó khiến người đọc phải suy nghĩ, chua xót và thấm tháp. Nó được bật lên bởi sự lố lỉnh của nhân vật, sự hí hước của các chi tiết sáng ý, sự bất thần của các sắp đặt khéo léo#.

Sau Diễm Châu hai mươi năm, bản dịch của Nguyễn Hữu Dũng nghe đâu lại xuất hiện trong một quang cảnh văn hóa khác. Đọc truyện, theo đó, người đọc Đầu tiên được trải nghiệm tiếng cười. 2. Với riêng Nguyễn Hữu Dũng, đấy còn là ý hướng giới thiệu về nền văn học Ba Lan, mà trước Mrożek, là những Henryk Sienkiewicz, Tadeusz Dolega Mostowicz, Helena Mniszek,… Ở góc cạnh thứ hai này, Nguyễn Hữu Dũng chia sẻ với dịch giả đến sau là Lê Bá Thự, khi cả hai ông đều là những dịch giả dịch văn chương Ba Lan từ nguyên ngữ.

Truyện của Mrożek quyến rũ người đọc trước tiên ở tính cách trào lộng. Nhưng giữa bối cảnh văn hóa xuất hiện dịch phẩm Mrożek của Nguyễn Hữu Dũng và Lê Bá Thự, dẫu chỉ cách nhau mươi năm, cũng có những thay đổi đáng chú ý. 5. Có thể đọc được hàng loạt các truyện ngắn của Mrożek từ ý kiến này.

Tập  50 truyện ngắn Sławomir Mrożek  của Nhà xuất bản văn chương cũng có kèm theo phụ đề: “Truyện ngắn, truyện cực ngắn chọn lọc”, trước khi trở về với phụ đề thân thuộc “Tập truyện ngắn” trong lần xuất bản bổ sung của Phương Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Gần đây nhất, tháng 5/2013, tập truyện  Con voi [Tuyển tập 85 truyện ngắn Mrożek]   của dịch giả Lê Bá Thự được Phương Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, trên cơ sở phát triển từ tập  50 truyện ngắn Sławomir Mrożek  (Nhà xuất bản văn học, 2002).

Một lời kết xuất sắc, cho nhiều hơn một chấm dứt truyện. Có thể mong những tác phẩm này như là những  viết ngắn  , còn được định danh bằng các tên gọi khác như truyện cực ngắn (nếu mường tượng đấy là diễn ngôn truyện kể), là tiểu luận (nếu hình dong đấy là các diễn ngôn nghị luận).

Sławomir Mrożek (1930) được biết đến với tư cách họa sĩ biếm họa trước khi trở nên kịch tác gia, nhà văn trào phúng Ba Lan nức danh thế giới.

Phẩm tính phi lý không được nhấn mạnh mà thay thế vào đó là phẩm tính trào lộng: tập sách của Nhà xuất bản Tác phẩm mới có thêm phụ đề “Tập truyện châm biếm”. ” Đó là lời kết của truyện  Nghề trẫm mình. Ngoài tính năng sản của tác phẩm Mrożek, sự thay đổi trong kinh nghiệm thẩm mỹ của người Việt Nam cũng làm cho một số vấn đề trong tác phẩm của ông được trổi lên ở mặt này hay mặt khác, khi là thuộc tính cách mạng từng lớp, khi là hiệu quả nghệ thuật tự sự, khi là phương thức tiếp cận nghệ thuật về con người và xã hội.

Có thể nói, Mrożek đã du hành đến Việt Nam gần nửa thế kỷ. Mrożek viết khoảng 40 vở kịch, đặc biệt với  Tango  (1964), ông đã tạo lập được tiếng tăm của mình trong dòng mạch những sáng tạo văn chương phi lý vào nửa sau thế kỷ XX.

Mrożek cũng thành công với truyện ngắn và tiểu luận, nơi miêu tả nhiều ý kiến sâu sắc của ông về nghệ thuật và thế cuộc. Trong cái nghề tự vẫn, thỉnh thoảng cũng xảy ra tai nạn chết người.

Năm 1969, ở Sài Gòn, dịch giả Diễm Châu đã ban bố bản dịch  Con voi (Słoń  , 1957) tại Nhà xuất bản Trình Bầy, trước cả bản dịch sang tiếng Anh ba năm:  The Elephant  (Greenwood Press, 1972). Nó có trào lộng nhưng không  hẳn/chỉ  là trào lộng, thậm chí độc lập với chức năng phúng gián.

Với Mrożek, đặc trưng viết ngắn đọng lại ở cái nhìn mang tính phúng dụ về đời sống, về nghệ thuật, làm thành những tác phẩm nhẹ-nhõm-sâu-cay khi cất tiếng cười giữa cuộc đời.

Vậy là, cùng một đối tượng, hiện diện ở Việt Nam trong hơn 40 năm, trong những không gian đọc khác nhau, coi về Mrożek đã có những chuyển đổi, theo cùng nhu cầu nhận thức và thưởng thức văn chương. Sự chia sẻ giữa hai dịch giả, có nhẽ đều ở góc cạnh giá trị tư tưởng và nhân tài nghệ thuật độc đáo của Mrożek. Gọi là viết ngắn để chủ yếu để nhấn mạnh đến tính chất giới hạn của tự sự, với sự gọn nhẹ của số lượng ngôn từ và khả năng bao quát ý tưởng, trong việc bao gộp thuộc tính kể việc và nghị sự, mà sự phân tách nhiều khi là bất khả.

Để ngay cả khi, nhiều ít những kinh nghiệm nghệ thuật của Mrożek có thể bị bỏ lỡ hay đã bị vượt qua, thì với nhiều khúc quành trong đời sống dịch thuật văn học Việt Nam, ông vẫn hiện diện như một chỉ dấu lịch sử để văn học Việt Nam soi rọi vào chính nó.

Và ở mỗi giai đoạn, ông đều mang đến cho người đọc Việt Nam ít nhiều những nhận thức và trải nghiệm mới mẻ. Thêm nữa, bởi với một dịch giả thiên tài không chỉ nằm lòng văn chương phi lý, thì một Mrożek của  Tango  đến từ Ba Lan xã hội chủ nghĩa xa xôi (hay từ một nhà văn Ba Lan đang lưu vong tại Pháp), có thể là một dấu chỉ quan trọng cho việc truyền dẫn tới bạn đọc Việt Nam.

Rất ít khi đó là tiếng cười hí hước, mà đốn là tiếng cười mai mỉa, châm biếm. Nhưng khi tiếng cười vừa ngưng lại, thì nỗi buồn nhóm rồi trào dâng.

Đến thời Lê Bá Thự, định ngữ này lại được thay thế để thành “truyện rất ngắn”, một loại thể mới được biết đến ở Việt Nam, như một cộng hưởng để theo đó, hy vọng viết ngắn có thể trở nên thể loại ưu trội trong văn chương Việt Nam thế kỷ mới. Điều gì đã khiến Mrożek du hành tới Việt Nam chỉ mươi mười lăm năm sau khi ông khẳng định được tiếng tăm của mình ở Ba Lan và châu Âu? Và vì sao lại là truyện ngắn chứ không phải kịch? Có lẽ sự thống nhất trong phong cách trào phúng ở cả thảy các thể loại mà Mrożek sáng tạo, với tính chất humour đặc trưng, khả năng sử dụng ngôn ngữ tinh tế và kỹ thuật giễu nhại điêu luyện, tuốt luốt hợp thành một phúng dụ về sự phi lý của cõi đời, kiếp người, mà xã hội Ba Lan chỉ là một trường hợp, đã đưa tác phẩm của ông vào tầm quan sát của dịch giả Diễm Châu.

Ở đấy, nhận thức sâu sắc cõi đời phi lý, sự dối trá của lòng người, sự lừa lật của quyền lực, Mrożek cất tiếng cười châm biếm, lật tẩy dung mạo khả ố của kẻ thống trị, đồng thời cất tiếng cười mai mỉa cả nạn nhân của nó, những người chấp thuận và/hoặc chịu đựng thỏa hiệp với đời sống tha hóa ấy.

Trước hết, ở thời kỳ Diễm Châu dịch chuyển, đó đơn thuần chỉ là “truyện” trong sự biện biệt với thơ và kịch.

Ở Việt Nam, Mrożek lại được biết đến cốt yếu với tư cách nhà văn viết truyện ngắn trào phúng, ngay từ rất sớm, và cho đến tận hiện nay. 3. 4.

Ông muốn người ta cất tiếng nói từ sự độc lập tự chủ ấy, dù thuần tuý có khi chỉ là một phát hiện giản dị mà không đơn giản: “Tin tức thì bảo đó là ‘vụ trẫm mình’, còn tôi thì tôi bảo, đó chẳng qua là một vụ tai nạn. Tiếng cười trong truyện Mrożek, bởi vậy, dù khôi hài hay mỉa mai hay châm biếm, đều kéo theo ở phía bên kia của nó tiếng khóc. Tính cách trào phúng, do đó, giảng giải cho việc dễ dàng đính thêm phụ đề “Truyện châm biếm” vào bản dịch  Con voi  , khi nó được hiểu như là một dòng mạch phát triển khá mạnh mẽ trong văn học Việt Nam truyền thống.

1.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét