Chỉ có với những bác sĩ như vậy thì ngành y mới có thể làm tròn thiên chức cao quý “chăm lo sức khỏe” cho toàn xã hội và xã hội mới có thể yên lòng với những người “từ mẫu” của mình
Người bác sĩ đến với bệnh nhân là động thái của một con người đang đến với một con người. Hồ Đắc Di đã viết: “. Nhưng đó chỉ là ôm đồm. Tại sao ở đâu đó sự giao thiệp của bác sĩ với bệnh nhân thiếu đi sự “lắng nghe và thấu hiểu”? Tại sao có những “từ mẫu” áo trắng không còn là những “mẹ hiền”. Chính thành ra mà mọi mô hình, mọi khuôn thước theo kiểu duy lý của y khoa đều không thể thu được kết quả đại trà cho cộng đồng người.
Đó cũng chính là tinh thần chủ đạo trong lời dạy của Bác Hồ: “Lương y kiêm từ mẫu”. Nhưng tình yêu thương và lòng có nhân không phải từ trên trời rơi xuống. Và, nhờ vậy lòng trắc ẩn, tình thương không bao giờ vơi giảm trong những năm tháng hành nghề của người bác sĩ. Về chương trình học thì ngành y ở các nước Âu Mỹ cũng như ở nước ta là dài nhất trong các ngành đào tạo và cũng thiên về “chữ” nhiều hơn “số”.
Viết vội, viết láu khác với viết xấu. Chữ xấu, câu cú lủng củng, nói năng cụt ngủn, tính cáu bẳn, thiếu đồng cảm sẻ chia với người bệnh, là những thói tật thường đi với nhau và có ngồi dưng ít người bác sĩ.
”. Nhưng nếu thiếu “suối nguồn văn chương” thì những hạt giống tâm hồn sẽ thiếu đất gieo và khó đâm chồi nảy lộc, nở hoa kết trái có nhân, yêu thương.
Và đúng như lời của nhà ngoại khoa lỗi lạc người Đức, Theodor Billroth (1829-1894): “Chỉ có người có tấm lòng cao cả mới trở nên một thầy thuốc tài năng” (Seulement un home de grand ceur peut être un bon médecin).
Những tội của ngành y hôm nay có phải là do thiếu vắng những điều như thế. Đỗ Hồng Ngọc là tập ký chân dung các văn nghệ sĩ. Tình thực mà nói, người bác sĩ nhận cái “phong bì” từ tay của người bệnh cũng chẳng sung sướng gì.
Nhà nghệ sĩ đầu tiên là một người dễ xúc cảm, người bác sĩ chân chính cũng vậy, giá trị của họ cũng như của họa sĩ hay nhạc sĩ đều tỷ lệ thuận với sự nhạy cảm của họ. Ngay từ năm 1949, trong bài Vinh và lụy của ngành y, GS
Sau một hai năm đầu học khoa học căn bản với những toán, lý, hóa, sinh. Hầu hết hoạt động thực tại nghề y là quá trình giao dịch ứng xử giữa bác sĩ với bệnh nhân, là các hoạt động từng lớp để chăm lo sức khỏe và phòng bệnh cho cộng đồng.
Rồi nữa, chuyện “phong bì” trong ngành y tế cũng là một minh họa sinh động cho thực tiễn này. Ngay từ thời xa xưa cách đây gần 2. Cũng một phần vì bận việc, thiếu thời gian (có nhiều nơi khám bệnh chỉ có 1 - 2 phút cho mỗi bệnh nhân) nên thầy thuốc kê toa viết vội, viết láu đến nỗi chính mình đọc cũng không ra.
Ta đã thấy không ít người làm nghề toán mà tâm hồn văn học lai láng. Cũng từ hàng trăm năm trước, người ta đã đưa ra một định nghĩa đơn giản về sức khỏe là “một tâm hồn trong sáng trong một thân thể lành mạnh” (âme saine dans un corps sain).
Tác phẩm Nhớ đến một người của BS. Dù nhìn ra từng lớp thấy ai cũng vậy nên cũng được yên ủi một phần, nhưng thực ra họ cũng đau lòng lắm. Các thầy thuốc tham gia khám từ thiện cho người dân trong cộng đồng. Tuy vậy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người bác sĩ cũng cần phải có lương tâm, bởi vì hơn bất cứ ngành nào khác, trong ngành y “Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự sa đọa của tâm hồn” (Francois Rabelais, 1494 - 1553).
Nhưng tạo hóa cũng thật là đánh đố khi tạo ra tình trạng “không ai giống ai” về mặt hình hài thể xác trong vơ loài người. Cũng chính điều đó đã làm nên sự thơm thảo, phần cao quý của ngành y, như lời Hippocrates: “Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm, tôi sẽ được hưởng một cuộc sống sung sướng và sẽ được hành nghề trong sự tôn trọng mãi mãi của mọi người”.
Lòng tự tôn nghề ấy đã được hình thành từ khi họ mới bước chân vào “trường thuốc”. Đó là nghệ thuật giao tế, nghệ thuật ứng xử tâm lý và hành vi giữa con người với con người. Hãy xét một chuyện nhỏ thôi là chữ viết. Nếu xét cả phần tâm hồn, cả mặt tinh thần nữa thì sự dị biệt giữa những cá thể người là khôn xiết, vô tận.
Dù rằng con người vốn “nhân chi sơ tính bản thiện”, nhưng đó mới chỉ là sự chịu đựng chứ chưa phải là tinh thần cống hiến, chưa phải là cách mưu cầu hạnh phúc bằng sự “cho đi” mà không đợi “nhận về” như cổ nhân đã dạy: “Thi ân bất cầu báo”.
Đó là chưa kể đến nguy cơ vi phạm y đức khi áp dụng. Vậy thì đâu phải chỉ có khoa học thiên nhiên mới cần cho những người bác sĩ ngày mai, còn văn chương (và khoa học từng lớp nói chung) thì không cần đến.
Tập thơ Từ đá vắt ra của TTƯT. Như tư tưởng của Hippocrates, ở đây lại nổi lên những “thuộc tính” cần và đủ của người thầy thuốc
“Không có bệnh mà chỉ có người bệnh” , đó là nguyên tắc căn bản của y học để nhấn mạnh đối với một loại bệnh, phải dựa trên tình trạng của một người cụ thể bị mắc bệnh để điều trị, không có biện pháp điều trị chung cho cả thảy mọi người. , Sinh viên y khoa bắt đầu những năm tiếp theo với những môn học y học cơ sở và y học lâm sàng mang tính tả và hướng dẫn với hàng núi con chữ chỉ có thể đọc và học để xọc.
BS. Hẳn nhiên, không ai ngây thơ đơn giản nghĩ rằng, người học toán thì khô khan mà người học văn thì lãng mạn. Họ đau vì chưng nó xúc phạm đến thiên chức từng lớp của người thầy thuốc, vì nó làm giảm sút đi những vinh quang cao quý của nghề nghiệp.
Thực ra thì không phải vậy. Và phép chữa bệnh không chỉ vận dụng cho phần thân xác mà còn phải cho, thậm chí là trước hết cho sức khỏe phần tâm hồn. Nếu người thầy thuốc là một nghệ sĩ bởi vì khoa học của họ là một nghệ thuật thì họ phải là một hiền nhân, vì chưng tâm hồn của họ là một đức tin và nghề nghiệp của họ là một sứ mệnh” (Hồ Đắc Di, Vinh và lụy của ngành y, 1949).
Ảnh: Trần Minh Ai cũng biết ngành y là một ngành khoa học, nhưng hoạt động thực tiễn ngành y là giao thoa giữa nghệ thuật và khoa học. Từ đó, càng thấu hiểu một nguyên lý rất căn bản của y học là chữa bệnh không chỉ chữa về thể chất mà cần phải chữa cả ý thức.
Bởi, văn chương nghệ thuật chân chính có tác dụng di dưỡng tâm hồn con người, giúp con người có được tấm lòng cao cả biết thương xót đồng loại, và đối với người thầy thuốc là biết thương người bệnh, coi người bệnh như cật ruột của mình.
Về mặt này, y học thật gần với văn học, như người ta thường nói: “văn học là nhân học” (Maxim Gorki).
Bấy lâu, chữ viết nào mà không đọc nổi người ta vẫn gọi là “chữ bác sĩ”. Đó có phải là do thiếu rèn luyện chữ nghĩa và thiếu văn chương để nuôi dưỡng một tâm hồn mẫn cảm, vị tha? Chúng ta cũng nên nhớ rằng: “Người thầy thuốc chỉ tỏ ra xứng đáng với nghề nghiệp cao quý của mình khi biết phối hợp khoa học với văn hóa.
Cả tầng lớp kêu ca lên án nhưng ai cũng biết ngành y không phải là một ốc đảo giữa xã hội và các bác sĩ không phải là những Robinson Cruso giữa hoang đảo đó nên trong điều kiện xã hội hiện thời, “phong bì” còn là một “vấn nạn” không riêng gì của ngành y tế. Và để nghề thăng hoa, để hành nghề hạnh phúc, người thầy thuốc còn phải có một tâm hồn lãng mạn và một trái tim hiền lành dẫn đường.
Để làm được như vậy, người hành nghề bác sĩ phải có nhiều đức hạnh mà trong đó tình thương yêu, lòng bác ái là cội nguồn của đức hy sinh. Mà “nét chữ là nết người” (Phạm Văn Đồng), viết ẩu cũng phần nào phản ảnh tính cẩu thả của con người. Với mỗi một người thầy thuốc, những tư tưởng chủ đạo trong Lời thề y học (Hippocratic Oath) được truyền dạy từ cha đẻ của ngành y, Hippocrates (460 - 370 trước Công nguyên), vẫn thấm đẫm tính nhân văn và là kim chỉ nam cho y đức (medical ethics).
Thật đáng buồn nhưng đó là thực tiễn đang diễn ra. 500 năm, những điều then chốt trong tư tưởng hành nghề y của Hippocrates vẫn tỏa sáng đến ngày nay: y khoa là khoa học về con người, cả thể chất và tinh thần.
Đó cũng là ngành khoa học thực nghiệm trên đối tượng cụ thể là những con người, bảo vật trác tuyệt nhất của tạo hóa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét