Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

mọi người đọc Sự tích hợp của sách giáo khoa.

Thuật ngữ SGK còn được hiểu là một loại sách chuẩn cho một ngành học. Với chức năng tự thân, SGK có vai trò đặc biệt quan yếu trong tiến trình nhận thức của học trò, chứa đựng hàm lượng căn bản nhất về tri thức và là nền tảng của tư duy sau này của đời người.

Vì sao bộ SGK được xây dựng công phu với sự dự của đông đảo giới khoa học lại có kết quả như vậy? Vấn đề không chỉ là chuyện 3 cấp học với hàng chục môn, hàng trăm quyển sách, những chi tiết chưa chuẩn xác… mà là tư duy của những người làm quản lý giáo dục, những người làm SGK cứ bâng khuâng giữa dòng! Một nhà khoa học giáo dục đã chính trực nêu lên 6 vấn đề của SGK giờ.

Do đó, trước khi muốn viết lại sách để giáo dục thì nên cách tân lại phương pháp dạy và học, đổi mới định hướng cho chương trình, nội dung và phương pháp cho các bậc học. Thế nhưng chúng ta đã không làm được điều ấy nên kiến thức bị phân khúc, tách rời, đứt quãng.

Học sinh Việt Nam cần có một chương trình đào tạo mới và bộ SGK tích hợp những tri thức cơ bản, những giá trị văn minh của dân tộc và nhân loại, được xây dựng một cách có hệ thống mang tính đặc thù, đáp ứng đích đào tạo nguồn nhân lực của sơn hà chứ không phải là sự chắp vá, vay mượn hay áp đặt một cách thô thiển công nghệ giáo dục từ các nước khác.

Theo đó, bộ SGK mới được viết cho chương trình giáo dục phổ biến 10 năm, thay vì 9 năm như thời kháng chiến. Lần cải cách SGK thứ tư tiến hành vào năm 2002 được thực hành một cách bài bản hơn: Xây dựng chương trình, soạn tài liệu dạy thí điểm rồi mới làm SGK chính thức.

Thứ ba, những tri thức dùng lối dạy đồng tâm, xuyên suốt các lớp là phương pháp có tính sư phạm cao, thành ra bộ SGK phải có một tổng chủ biên quán xuyến từ đầu đến cuối. Với một chương trình giáo dục không còn phù hợp với tầng lớp đương đại, không bắt kịp với xu thế phát triển của thế giới thì dĩ nhiên phải thay đổi. Đến năm 1956, sau hai năm "từng đoàn quân chiến thắng tiến về Thủ đô", để hợp nhất nền giáo dục trong chiến khu kháng chiến và những vùng địch tạm chiếm, một cuộc cách tân giáo dục mới được tiến hành.

Một vấn đề nữa, đổi mới giáo dục đào tạo phải được đặt trong tổng thể nền kinh tế - xã hội và những dự báo phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, sau một thời kì "lưu hành", SGK đã "phát lộ" nhiều bất cập và cho đến bữa nay, có thể thấy rằng SGK không chỉ là gánh nặng với học trò, với thầy, cô giáo mà còn kéo theo nhiều hệ lụy cho tầng lớp.

Ba cuộc canh tân giáo dục phổ quát đã làm tròn sứ mạng trong những thời đoạn lịch sử nhất định. Trong một thế giới hội nhập với sự vận động đến vô tận của kiến thức, không thể tiếp tục chạy đuổi để tạo ra những cỗ máy có thể nạp đầy kiến thức mà phải tạo ra những con người có khả năng làm chủ tri thức, biết độc lập suy nghĩ và giàu khả năng tư duy sáng tạo, biết sống, cống hiến bằng trái tim, bằng nghĩa vụ với giang san, với dân tộc.

Từ đó đổi mới phương pháp dạy và học trên cơ sở coi người học là một chủ thể sáng tạo đầy tiềm năng để khơi gợi tiềm năng ấy mở ra và hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống từng lớp. "Muốn thắng trong kinh tế, trước hết phải thắng trong giáo dục", chúng ta cần hình thành một triết lý giáo dục riêng mang đặc thù Việt Nam và định hình rõ mục tiêu giáo dục.

Tiếp đó, sau 4 năm phóng thích miền Nam thống nhất tổ quốc, năm 1979, nhằm thống nhất nền giáo dục chung cho cả nước, cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba được tiến hành với việc xây dựng hệ thống giáo dục phổ biến 12 năm. Nếu không có những người thầy máu nóng, trí tuệ sẽ không có những tư cách, những hào kiệt cho đất nước.

Thứ năm, thiếu tính liên thông về kiến thức. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, GS. Thứ nhất, việc xây dựng chương trình học còn thiếu nhiều tri thức, kể cả thiếu một số môn then chốt về khoa học tư duy, về kỹ năng sống, khả năng sáng tạo.

Kinh nghiệm từ những lần cải cách giáo dục trong lịch sử cũng như những lần thay đổi SGK trước đây không cho phép biến những "cải tiến" trong giáo dục - đào tạo thành "cải lùi". Chủ chốt của giáo dục là dạy người và dạy làm người. Thứ sáu, việc tuyển lựa khối lượng và thuộc tính các đơn vị kiến thức đưa vào chương trình nhiều khi chưa có tính sư phạm, còn quá tải, sai thực tại… Một vị lãnh đạo của Bộ GD-ĐT cũng thừa nhận: Nội dung và phương pháp giáo dục lạc hậu, nặng về dạy chữ, gây hiện tượng quá tải không chỉ đối với học trò mà còn với công tác quản lý… Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy cải tiến SGK là hết sức cấp thiết.

Chúng ta đang giáo dục con người theo cách tiêu cực. Nếu chỉ quan hoài đến việc viết lại sách sẽ không giải quyết được vấn đề gì… Như vậy, vấn đề đặt ra là xây dựng nội dung chương trình dạy học phải theo hướng giảm tải, kết cấu đồng bộ, hợp lý giữa giáo dục nhân cách, lối sống với giáo dục kiến thức - văn hóa - khoa học - công nghệ, giáo dục tư duy sáng tạo, kỹ năng sống, kỹ năng thực hành.

Một lần nữa, SGK lại được "xới" lên với hàng loạt vấn đề như: Quá nặng về tri thức nhưng càng ngày càng xa cách thực tại và không khuyến khích được tư duy sáng tạo của học sinh; nội dung đổi thay và cải cách quá nhiều trong thời kì ngắn; khâu tổ chức soạn cũng có không ít vấn đề… Câu chuyện SGK với những khiếm khuyết hoặc quá thừa không chỉ làm phí phạm tiền bạc, thời gian mà còn đặt lên vai học trò, nghiêm đường những áp lực không đáng có.

Thế nên đổi mới giáo dục chẳng thể tách rời việc canh tân sư phạm. Theo Đại tự điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), SGK là sách soạn theo chương trình, dùng để dạy và học trong trường phổ thông. Có nhiều định nghĩa khác nhau về SGK, tựu trung có thể hiểu SGK là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học.

Thế nhưng đổi thay ra sao, trên nền móng nào, thực hành vào thời khắc nào… lại là cả vấn đề. Thứ hai, SGK hiện giờ định vị không đúng vai trò của các môn học trong cấu trúc tri thức (tỉ dụ, ngoại ngữ có vai trò quan yếu trong đời sống ngày nay nhưng lại là môn tự chọn, đưa vào chương trình từ lớp 3). Cái hay ở chỗ là chỉ cần một bộ SGK in đen trắng trên giấy xấu đã được nhiều đời trong một gia đình giữ giàng, chuyền tay nhau học tập.

Thứ tư, SGK hiện thời thiếu tính xuyên môn trong cấu trúc chương trình. Theo Phó chủ toạ Tổ chức phát triển quốc tế chuyên nghiệp Pearson - Sherry Preiss, "một cuốn SGK phải sống và chuyển động, kiến tạo và sáng tạo những kiến thức của người học, của cha và cộng đồng". Những cuốn sách giáo khoa đầu tiên viết mộc mạc, in trên giấy bản đã xuất hiện vào năm 1950.

Thôi thì dù thất vọng nhưng vẫn tiếp phải hy vọng! nền tảng nào để xây dựng bộ SGK chuẩn mực? Cho đến nay, đây vẫn là một câu hỏi chưa cho câu giải đáp chính xác.

Để điều đó trở thành hiện thực thì không chỉ tạo dựng cơ sở vật chất cho giáo dục - đào tạo mà còn phải thay đổi tư duy, nhận thức của những người thầy (bởi họ chính là cầu nối đưa mọi sự cách tân giáo dục đến với học trò). Cũng có rất nhiều tiêu chí được đặt ra với loại sách này. Sự nghiệp giáo dục đối với Việt Nam không chỉ là động lực cho kinh tế mà còn là yếu tố để chấn hưng văn hóa, gìn giữ và phát huy các giá trị Việt Nam.

Không ít kinh nghiệm soạn SGK của nước ngoài đã được tiếp thụ và theo một nhà giáo dục học thì có đến 500 nhà khoa học đã tham dự biên soạn và thẩm định bộ SGK này. Đã quá nhiều năm chúng ta kỳ vọng vào một bộ SGK chuẩn mực trong thời kỳ hội nhập, nhưng rồi vẫn thất vọng đến tận bây chừ.

Đặc biệt, phải xác định rõ mục tiêu giáo dục và việc đổi mới SGK là công đoạn rốt cuộc trong quá trình đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục. TS Trần hoá nhi, nguyên Bộ trưởng Bộ GD-ĐT cho rằng: Chúng ta phải đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục, trong đó có rất nhiều việc phải làm chứ không phải chỉ có chăm bẳm nghĩ đến chuyện viết lại SGK.

Nếu không có cách nhìn hệ thống, tư duy khoa học là lịch trình cụ thể thì công cuộc canh tân giáo dục không chỉ như "dã tràng xe cát" mà còn để lại nhiều hệ lụy cho các thế hệ người Việt trong ngày mai. Trong kháng chiến chống Pháp, với đích xây dựng một nền giáo dục hiệp với chế độ mới, chúng ta đã tiến hành cuộc canh tân giáo dục trước hết.

Vừa viết sách, vừa hình thành chương trình giáo dục trong bối cảnh vô cùng khó khăn, nhưng nền tảng kiến thức từ những cuốn SGK ấy đã tạo nên nhiều hào kiệt phục vụ sự nghiệp phát triển giang san. Nếu tìm hiểu tiến trình phát triển của ngành giáo dục nước nhà gần một thế kỷ qua, mỗi lần cải cách giáo dục phổ biến là một lần… thay đổi sách giáo khoa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét